Thứ Tư, 31 tháng 7, 2024

THỰC HÀNH!

Dương Quốc Việt

Mahatma Gandhi: “Một aoxơ thực hành đáng giá hơn nhiều tấn thuyết giảng“.

Ở một xã hội mà nhiều thứ dường như chỉ được “rao giảng”, trong khi nhận thức của số đông bằng định kiến, bằng cảm tính, thì thực hành bài bản, nghiêm ngặt, khổ công trở nên một hiện tượng độc lạ. Nó còn như thể “vén mây mù để thấy trời xanh”. Người ta có điều kiện để kiểm chứng, để soi chiếu, để suy xét về nhiều vấn đề, đặc biệt là đức hạnh của kẻ rao giảng.

Publilius Syrus: “Thực hành là người thầy tốt nhất“.

William Blake: “Phương thức chân chính của tri thức là thử nghiệm“.

Henri Poincare: “Thực nghiệm là nguồn sự thật duy nhất. Chỉ nó có thể dạy cho ta biết điều gì đó mới mẻ; chỉ nó có thể cho ta sự chắc chắn“.

___________

Viết ngày 5, tháng 6, 2024, đăng trên Fb, nhân sự kiện Thích Minh Tuệ.


Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2024

VĨNH BIỆT ÔNG!

Dương Quốc Việt

Cuộc đời con người, ai cũng vậy thôi, đa phần là nỗ lực hết mình, đeo đuổi, thỏa khát vọng cá nhân. Được kết nạp Đảng ở tuổi 23, dường như ông đã sớm chọn cho mình con đường chính trị. Dẫu vậy, thật không dễ để có thể chỉ ra những điều căn cốt nào làm nên một Nguyễn Phú Trọng của thời đại này? Tất nhiên, ở đây chỉ nói đến phương diện cá nhân của một con người.

Và liệu có phải chăng: tri thức Chính trị học; phong cách lãnh đạo kiên định, quyết đoán; tính cách giản dị và gần gũi; tầm nhìn chính trị; và hơn hết, sự trung thành và kiên trung với lý tưởng cộng sản, tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền, đã làm nên con người ông!?

Thưa ông, cái gì đến sẽ phải đến. Tôn thờ lý tưởng gì thì lý tưởng, nhưng chắc chắn hầu hết những người sinh ra trên mảnh đất hình chữ S này đều nhận thức rằng: đất nước phát triển và dân tộc trường tồn, theo dòng chảy của văn minh nhân loại, giúp loại bỏ tận gốc nạn tham nhũng, mới là những điều quan trọng nhất!

Thôi thì, ai rồi cũng phải chết, và cũng vì những cái chết mà cuộc sống mới có chỗ để sinh sôi, đâm chồi nảy lộc. Nhưng một con người với sự phấn đấu, đấu tranh không mệt mỏi cho đến phút chót như ông, dẫu kẻ yêu người ghét cũng phải kính nể. Di sản mà ông để lại sẽ được lịch sử đánh giá công bằng, chắc chắn là như vậy!

Cầu mong ông sớm siêu thoát!

Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2024

CHUYỆN NGƯỜI CHUYỆN MA QUỶ

Dương Quốc Việt

Khổng Tử (Khổng Khâu) là bạn của Liễu Hạ Quý, còn Đạo Chích là em trai của Liễu Hạ Quý. Đạo Chích có một đội quân chín ngàn người, hoành hành trong thiên hạ, cướp bóc các chư hầu, đào tường, khoét vách, và lùa bò ngựa của dân chúng. Đến mức, nước lớn phải lo giữ thành, nước nhỏ phải trốn vào lũy khi hắn đi qua.

Bởi vậy Khổng Tử mới quyết một phen gặp Đạo Chích, nhằm khuyên bảo để y “cải tà quy chính”. Thế rồi sau một hồi đối đáp căng thẳng giữa hai bên, cuối cùng Đạo Chích đã nói với Khổng Tử thế này:

Chuyện mà Khâu đem để thuyết phục ta, nếu bảo về chuyện ma quỷ thì ta không thể biết, chứ bảo với ta về chuyện người, thì chẳng qua cũng như thế đó mà thôi!”

Vậy “chuyện người” bản chất đích thực là gì, mà rút cục “chẳng qua cũng như thế đó mà thôi!”?

Còn “chuyện ma quỷ”, thì không chỉ có Đạo Chích thẳng thắn nhận “ta không thể biết”, mà có lẽ hầu hết là không ai biết!

Vậy rút cục “chuyện ma quỷ” là những chuyện gì, mà chẳng ai có thể biết, nhưng vẫn được kể, trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại?

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2024

SỐNG KHẮC KỶ

Dương Quốc Việt

Triết lý khắc kỷ nhấn mạnh việc sống theo lý trí và đức hạnh, tập trung vào những gì nằm trong tầm kiểm soát, và chấp nhận một cách điềm tĩnh những gì nằm ngoài tầm kiểm soát.

Người khắc kỷ tin rằng, bản thân chỉ có thể kiểm soát suy nghĩ, hành động và phản ứng của chính mình, còn những yếu tố bên ngoài như thời tiết, hành vi của người khác, hay kết quả của sự việc, là nằm ngoài sự kiểm soát của họ. Do đó, họ tập trung vào việc cải thiện bản thân, và chấp nhận những gì xảy ra ngoài tầm với, với tâm thế bình tĩnh.

Người khắc kỷ cho rằng, các đức hạnh chính bao gồm: sự khôn ngoan, lòng dũng cảm, công bằng, và sự tiết chế, là những yếu tố quan trọng nhất trong cuộc sống khắc kỷ, và tin rằng sống theo các đức hạnh này, sẽ dẫn đến một cuộc sống hạnh phúc và thỏa mãn.

Người khắc kỷ tin yêu số phận, nghĩa là chấp nhận và yêu thương mọi điều xảy đến trong cuộc đời, dù là tốt hay xấu. Họ coi những thử thách và khó khăn, là cơ hội để rèn luyện và trưởng thành.

Người khắc kỷ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sống trong hiện tại, không lo lắng về quá khứ hay tương lai. Họ tin rằng sự hiện diện và chú tâm vào từng khoảnh khắc, sẽ giúp sống một cuộc sống có ý nghĩa hơn.

Người sống khắc kỷ thường gắng giữ tâm trạng bình tĩnh, và kiên định trong mọi hoàn cảnh, không để cảm xúc tiêu cực như giận dữ, lo lắng hay sợ hãi chi phối. Họ rèn luyện khả năng kiểm soát cảm xúc, và phản ứng một cách hợp lý và điềm tĩnh.

Khắc kỷ là một trường phái triết học cổ đại xuất phát từ Hy Lạp, được thành lập bởi Zeno thành Citium vào đầu thế kỷ thứ 3 TCN. Các tác phẩm của các triết gia khắc kỷ nổi tiếng như Marcus Aurelius, Seneca và Epictetus đã truyền tải những tư tưởng khắc kỷ. Chủ nghĩa khắc kỷ không chỉ là một triết lý, mà còn là một lối sống, giúp con người đạt được sự bình an nội tâm, và sống một cuộc sống có ý nghĩa.

Zeno (334 TCN-262 TCN) là nhà triết học người Hy Lạp, người sáng lập ra chủ nghĩa khắc kỷ. Người ta thường gọi ông là Zeno xứ Cititum để phân biệt với Zeno xứ Elea (501/490-430/429TCN) là một nhà toán học, nhà triết học người Hy Lạp, tác giả của Nghịch lý Zeno, một trong những nghịch lý khoa học nổi tiếng nhất.

Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2024

SỰ TỒN TẠI VÀ Ý NGHĨA CUỘC SỐNG

Dương Quốc Việt

Điều vô lý là khái niệm thiết yếu và là sự thật đầu tiên.”

Albert Camus

 

Albert Camus (1913-1960) là nhà văn đoạt giải Nobel, triết gia, nhà báo người Pháp. Những quan điểm của ông đã đóng góp vào sự phát triển của chủ nghĩa phi lý (absurdism). Ông viết trong bài luận “Người phản kháng” (The Rebel) rằng mình dành cả cuộc đời để chống lại triết lý hư vô, trong khi vẫn đi sâu vào tự do cá nhân. Cùng với Jean-Paul Sartre, Albert Camus là đại diện tiêu biểu nhất của chủ nghĩa hiện sinh. Ông là tác giả của các tiểu thuyết nổi tiếng “L’Étranger” (Người xa lạ) và “La Peste” (Dịch hạch). Albert Camus được trao tặng Giải Nobel Văn học năm 1957 vì các sáng tác văn học của ông đã “đưa ra ánh sáng những vấn đề đặt ra cho lương tâm loài người ở thời đại chúng ta”.

Nói đến triết học hiện sinh, không thể không nhắc đến Søren Kierkegaard (1813-1855)-triết gia, nhà thần học, nhà thơ, nhà phê bình xã hội, và tác gia người Đan Mạch thế kỷ 19, được coi là ông tổ của nó. Đặc biệt với vai trò là người khai sinh triết học hiện sinh, Kierkegaard đã đặt ra những câu hỏi cơ bản mà nhiều người trong chúng ta có thể đã từng tự hỏi:

Tôi nhúng ngón tay vào sự tồn tại – và nó chẳng có mùi gì. Tôi đang ở đâu? Tôi là ai? Tại sao tôi lại ở đây? Cái thứ gọi là thế giới này là gì vậy? Thế giới này có ý nghĩa gì? Ai đã dụ tôi vào thế giới này? Tại sao tôi lại không được hỏi xin phép và tại sao tôi lại không được thông báo những luật lệ và quy định của nó mà bị xô vào cuộc sống như thể bị một kẻ bắt cóc, một tên lái buôn món hàng linh hồn mua lấy? Tại sao tôi lại liên quan đến cái doanh nghiệp lớn có tên là thực tại này? Tại sao tôi lại nên quan tâm tới nó? Không phải đó là mối quan tâm tự nguyện sao? Và nếu tôi phải liên quan, người quản lý ở đâu? Tôi muốn lên tiếng. Không có quản lý sao? Tôi phải phàn nàn với ai đây?

Câu trả lời cho các câu hỏi nêu trên của Kierkegaard rất đa dạng, và phụ thuộc vào quan điểm triết học, tôn giáo, và cá nhân của từng người. Và chúng dường như nằm ngoài phạm vi của lý trí.

Có người cho rằng, các câu hỏi này xuất phát từ sự lẫn lộn giữa ngôn ngữ và thực tại, và cần phải làm rõ các khái niệm trước khi trả lời. Số khác, nhấn mạnh rằng, trả lời cho các câu hỏi của Kierkegaard không quan trọng, bằng việc tìm cách sống cuộc sống hàng ngày, sao cho có ý nghĩa và hài lòng.

Thực tế, các câu hỏi này đã thúc đẩy sự phát triển của nhiều hệ tư tưởng khác nhau, và tiếp tục là nguồn cảm hứng cho các cuộc thảo luận triết học hiện đại. Nó không chỉ thách thức chúng ta về bản chất của sự tồn tại, mà còn về sự nhận thức của chúng ta đối với thế giới xung quanh.

 

Trở lại với danh ngôn “Điều vô lý là khái niệm thiết yếu và là sự thật đầu tiên” của Albert Camus, câu nói này có nguồn gốc từ triết lý của ông về sự phi lý. Nó nằm trong bài luận “Huyền thoại Sisyphus”, xuất bản năm 1942. Trong bài luận này, Camus khám phá sự phi lý của cuộc sống và việc nỗ lực tìm kiếm ý nghĩa, trong một thế giới không có ý nghĩa nội tại. Ông cho rằng con người luôn cố gắng tìm kiếm ý nghĩa và trật tự, trong một thế giới vô nghĩa và hỗn loạn. Tuy nhiên, những nỗ lực này thường bị phản bội, bởi bản chất phi lý của cuộc sống. Sự phi lý là điều không thể tránh khỏi, khi khao khát tìm kiếm ý nghĩa của con người, xung đột với sự thờ ơ, im lặng của vũ trụ.


Trong ngữ cảnh triết học của Camus, ông thường nhấn mạnh sự không thể hiểu biết tuyệt đối về ý nghĩa cuộc sống và vũ trụ. Với danh ngôn này, Camus muốn nhấn mạnh rằng, việc chấp nhận điều vô lý, là bước đầu tiên để đối mặt với thế giới và cuộc sống. Việc này có thể dẫn đến sự tự do tinh thần, và khả năng sống chân thành, trong điều kiện không có lý giải. Ông không khuyến khích sự tuyệt vọng, mà tin rằng, dù cuộc sống không có ý nghĩa bẩm sinh, con người vẫn có thể tạo ra ý nghĩa qua hành động và lựa chọn của mình.


Có lẽ cũng cần bàn thêm rằng, tại sao “điều vô lý” lại là khái niệm thiết yếu và là sự thật đầu tiên? Đó chính là vì nhận thức của con người luôn chủ quan, méo mó và không đầy đủ về tự nhiên, xã hội và con người. Trong khi đó, con người lại luôn cố gắng tìm kiếm ý nghĩa và quy luật, trong cái thế giới khách quan, theo cách hiểu hạn hẹp của mình. Còn cái mà con người gọi là “điều vô lý”, chính là những điều không hợp lý, không logic hoặc không tuân theo những quy tắc mà con người đặt ra. Vì thế, con người luôn gặp phải sự vô lý và mâu thuẫn, không chỉ giữa “cái lý” của con người với “cái lẽ” của tạo hóa, mà còn giữa “cái lý” của con người với nhau.


Dẫu vậy, không phải vì hạn chế trong nhận thức của mình, mà con người được phép chối bỏ, lảng tránh những câu hỏi nêu trên. Cuối cùng, để kết thúc, xin được trích dẫn một danh ngôn, của Erich Fromm (1900-1980)-nhà tâm lý học xã hội, nhà phân tâm học, triết gia và người ủng hộ chủ nghĩa xã hội dân chủ người Đức: “Con người là động vật duy nhất mà sự tồn tại của chính mình là một vấn đề phải đi tìm lời giải”.