Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2024

LÝ TRÍ VÀ ĐỨC TIN

Dương Quốc Việt

Đã đăng trong VH NAhttp://vanhoanghean.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/ly-tri-va-duc-tin

Nhận thức thế giới là một quá trình phức tạp và đa chiều, trong đó con người cần sử dụng cả lý trí và đức tin để hiểu rõ hơn về bản thân và môi trường xung quanh. Hơn nữa, hai yếu tố này đều có vai trò quan trọng và bổ sung cho nhau trong việc phát triển cá nhân cũng như xây dựng một xã hội toàn diện.

Lý trí là khả năng tư duy logic, phân tích và đưa ra quyết định dựa trên sự quan sát và bằng chứng. Lý trí giúp con người giải quyết các vấn đề thông qua phân tích logic để tìm ra các giải pháp hiệu quả, giúp hiểu quy luật tự nhiên thông qua nghiên cứu khoa học, áp dụng các nguyên tắc lý thuyết và phát triển công nghệ, tạo ra các công cụ và phương pháp mới để cải thiện chất lượng cuộc sống.

Tuy nhiên, lý trí không thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề! Lý trí dựa vào dữ liệu và bằng chứng, nhưng không phải mọi thứ đều có thể đo lường hay chứng minh bằng khoa học hoặc logic. Ví dụ, các vấn đề siêu hình học như bản chất của tồn tại hay ý nghĩa của cuộc sống thường nằm ngoài phạm vi của lý trí. Mặt khác, lý trí thường bỏ qua những yếu tố cảm xúc, tinh thần và kinh nghiệm cá nhân, những yếu tố này đôi khi rất quan trọng trong việc hiểu rõ con người và thế giới. Vì thế, để nhận thức thế giới, con người còn phải cần đến đức tin.

Voltaire (1694-1778), nhà văn, bình luận gia, và triết gia người Pháp, đã cắt nghĩa rằng: “Đức tin là tin tưởng khi lòng tin đã nằm ngoài khả năng của lý trí“. Đức tin không chỉ liên quan đến tôn giáo mà còn bao gồm niềm tin vào những giá trị, mục tiêu và ý nghĩa cuộc sống. Đức tin giúp con người định hình cuộc sống và tìm thấy lý do để tồn tại, tạo động lực, tin vào thành công, sự cố gắng và những điều tốt đẹp để có thể thúc đẩy hành động. Không những thế, đức tin còn giúp xây dựng cộng đồng, kết nối con người và tạo nên đoàn kết xã hội.

Nhớ rằng, đức tin dựa trên niềm tin mà không cần bằng chứng cụ thể. Điều này có thể dẫn đến việc tin vào những điều không đúng hoặc không có cơ sở. Chưa kể, đức tin có thể cản trở việc tiếp nhận thông tin mới hoặc thay đổi quan điểm khi có bằng chứng mâu thuẫn.

Do vậy, để đạt được sự hiểu biết và phát triển toàn diện, con người cần biết cách kết hợp giữa lý trí và đức tin. Chẳng hạn, một mặt cần sử dụng lý trí để đánh giá các niềm tin, tránh rơi vào mê tín hay niềm tin mù quáng; mặt khác, sử dụng đức tin để mở ra những khả năng mà lý trí có thể bỏ qua, khuyến khích sự sáng tạo và tư duy đổi mới. Chúng ta nên kết hợp các quan điểm khoa học với các giá trị nhân văn và đạo đức để đưa ra những quyết định hợp lý và có trách nhiệm. Cần biết tôn trọng sự khác biệt, hiểu rằng mỗi con người có những niềm tin và quan điểm riêng, cần có sự tôn trọng và dung hòa để cùng phát triển.

Biết kết hợp giữa lý trí và đức tin, con người đã đạt biết bao kỳ tích, nhờ sức mạnh của trí tuệ được hun đúc và dẫn dắt bởi ánh sáng của niềm tin. Chính lý trí của Socrates kết hợp với đức tin của Jesus đã tạo nên nền tảng mạnh mẽ cho văn minh phương Tây. Tư tưởng của Socrates thúc đẩy sự phát triển của khoa học, triết học và tư duy lý luận. Sự nhấn mạnh vào lý trí và việc đặt câu hỏi đã giúp phát triển một nền khoa học tiên tiến và một hệ thống giáo dục chú trọng vào phản biện, phân tích và khám phá. Cùng với đó, đức tin của Jesus mang đến những giá trị đạo đức, tình yêu thương và lòng bác ái, nền tảng cho các chuẩn mực xã hội và văn hóa, đóng góp vào việc hình thành những giá trị nhân đạo và tôn giáo sâu sắc. Vì thế, nhân loại đã và đang chứng kiến một nền văn minh đa dạng và phong phú, nhấn mạnh vào sự phát triển cá nhân, khoa học và tư duy phản biện, nhưng cũng không quên những giá trị tinh thần và đạo đức.

Qua đó, có thể thấy lý trí và đức tin đều là những yếu tố không thể thiếu trong quá trình nhận thức thế giới của con người. Khi biết cách kết hợp và cân bằng giữa hai yếu tố này, tạo nên sự hài hòa giữa độ chính xác của lý trí và sự sâu sắc của đức tin, chúng ta có thể đạt được sự hiểu biết sâu sắc hơn, cũng như xây dựng một cuộc sống ý nghĩa và phong phú hơn. Cuối cùng, để khép lại bài viết, xin dẫn ra đây một câu nói nổi tiếng của nhà bác học vĩ đại Albert Einstein: “Khoa học mà không có tôn giáo thì khập khiễng, tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng”.

PS: Tôi định dẫn ra một ví dụ về sự tồn tại và sử dụng đức tin, ngay cả trong toán học, nhưng e bài viết nặng nề nên đành thôi. Chẳng hạn như câu chuyện dưới đây:

ĐỨC TIN TRONG TOÁN HỌC 

Hình học Euclid với hệ tiên đề của nó là một bộ môn đã được học ngay từ chương trình phổ thông. Có thể nói đó là cái “khuôn vàng thước ngọc” đầu tiên mà mọi khoa học cần phải hướng tới. Bởi nó được bắt đầu từ một hệ tiên đề, rồi từ đó người ta thiết lập và khám phá ra các định lý với những chứng minh chặt chẽ.

Một vấn đề đặt ra là, liệu có gặp phải tình trạng các định lý của Hình học Euclid mâu thuẫn nhau hay không?

Chắc chắn tôi và các bạn đều tin là không! Đến nay, mọi người đều tin rằng các định lý được rút ra từ hệ tiên đề của Hình học Euclid sẽ không mâu thuẫn nhau. Và điều này cũng đã được nhân loại kiểm chứng hàng nghìn năm qua!

Nhưng nếu bảo một ai đó chứng minh rằng mọi định lý được rút ra từ hệ tiên đề của Hình học Euclid là không mâu thuẫn nhau, thì than ôi – đó là một việc KHÔNG THỂ làm được!!! Bạn có biết tại sao không?

Hóa ra, điều mà ai cũng tin, nhất là các nhà toán học, rằng “mọi định lý được rút ra từ hệ tiên đề của Hình học Euclid là không mâu thuẫn nhau” chỉ là một ĐỨC TIN mà thôi! Điều này khiến người ta nhớ đến câu của cụ Voltaire: “Đức tin là tin tưởng khi lòng tin đã nằm ngoài khả năng của lý trí”.

Có lẽ hầu hết các lý thuyết khoa học đều rơi vào tình trạng tương tự như thế của Hình học Euclid. Và để phát triển được, không có gì khác người ta phải cần đến “đức tin”, như một sự thừa nhận về tính xác thực của chúng. Nếu không thì không biết sẽ thế nào nhỉ?

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2024

XÃ HỘI MÊ TÍN?

 Dương Quốc Việt

Mê tín dị đoan đối với tôn giáo cũng giống như chiêm tinh học đối với thiên văn học, đứa con gái điên dại của bà mẹ thông minh. Những đứa con gái này đã thống trị thế giới quá lâu.

Voltaire

_____________________

Một xã hội mê tín là một xã hội trong đó nhiều người tin vào và hành động dựa trên những niềm tin phi lý hoặc không có cơ sở khoa học. Mê tín có thể bao gồm các tín ngưỡng về điềm báo, ma quỷ, phép thuật, thần linh, và các nghi lễ hoặc phong tục không dựa trên lý trí hay bằng chứng thực tế.

Mê tín khác với đức tin tôn giáo. Dẫu vậy, phân biệt mê tín và đức tin tôn giáo có thể phức tạp, vì cả hai đều liên quan đến niềm tin vào những điều không thể chứng minh hoặc giải thích hoàn toàn bằng lý trí hay khoa học. Tuy nhiên, đức tin tôn giáo thường khuyến khích những hành vi đạo đức, lòng từ bi và sự đoàn kết xã hội, trong khi mê tín thường dẫn đến những hành vi phi lý trí và không an toàn, như tin vào bùa chú, phù thủy hoặc các nghi lễ có hại. Những người mê tín, thường sẽ không có hoặc thiếu đức tin!

Một đặc điểm nổi bật thường thấy ở một xã hội mê tín là đông đảo người trong xã hội này thường tin rằng một số sự kiện hoặc hiện tượng tự nhiên là điềm báo cho tương lai. Xã hội mê tín thường có nhiều nghi lễ và phong tục phức tạp mà người ta tin rằng sẽ đem lại may mắn hoặc tránh được xui xẻo, tin vào sức mạnh của bùa chú hoặc các loại phép thuật, có niềm tin mạnh mẽ vào sự tồn tại của ma quỷ, linh hồn và các thực thể siêu nhiên khác. Trong một xã hội mê tín, khoa học và lý trí thường bị xem nhẹ hoặc bị từ chối. Thay vào đó, các niềm tin phi lý và không có bằng chứng khoa học lại được coi trọng. Họ thường tôn sùng và dựa vào những người tự nhận có khả năng siêu nhiên, như thầy bói, thầy cúng hoặc các nhà tiên tri. Những hiện tượng bất thường hoặc hiếm gặp thường được diễn giải theo các niềm tin mê tín, và người ta có thể phản ứng một cách quá mức hoặc không hợp lý với những hiện tượng này.

Lịch sử nhân loại đã ghi lại không ít những xã hội mê tín. Chẳng hạn, Châu Âu thời Trung Cổ với niềm tin vào phù thủy, ma quỷ và những hiện tượng siêu nhiên rất phổ biến, những cuộc săn lùng phù thủy và các cuộc hành hình vì mê tín diễn ra ở nhiều nơi. Xã hội Maya và Aztec có những nghi lễ hiến tế người sống để làm vui lòng các vị thần và đảm bảo mùa màng bội thu. Ai Cập cổ đại cũng tin vào nhiều thần linh và hiện tượng siêu nhiên, điều này thể hiện qua các nghi lễ tôn giáo và lễ tang. Xã hội Nhật Bản thời Edo với các tín ngưỡng mê tín như bùa chú, ma quỷ và linh hồn người chết cũng ảnh hưởng mạnh đến đời sống hàng ngày của người dân.

Nguyên nhân tạo ra một xã hội mê tín thường đa dạng và phức tạp. Trước hết là do con người không được tiếp cận thông tin chính xác, thiếu kiến thức khoa học, nhất là khi khoa học và công nghệ chưa phát triển hoặc không được phổ biến rộng rãi. Ngoài ra, văn hóa, phong tục, tập quán và tín ngưỡng truyền thống có thể chứa đựng nhiều yếu tố mê tín và chúng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nỗi sợ hãi, sự bất ổn và bất an trong những thời kỳ khủng hoảng, chiến tranh hoặc thiên tai khiến con người có xu hướng tìm kiếm sự an ủi và hy vọng qua mê tín. Chưa kể, bản thân một số tôn giáo cũng có chứa đựng những yếu tố mê tín, ảnh hưởng đến quan điểm và hành vi của tín đồ.

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2024

BIẾT ĐẶT CÂU HỎI

Dương Quốc Việt

John Dewey: “Hãy cho người học điều để làm, chứ không phải điều để học; vì đặc tính của hành động là đòi hỏi tư duy; việc học sẽ tự nhiên mang đến kết quả”.

John Quincy Adams: “Cung cấp phương thức để đi tìm tri thức, đó là lợi ích lớn nhất có thể trao cho con người. Nó kéo dài cuộc sống và mở rộng phạm vi tồn tại.”

Có lẽ để đạt được những kỳ vọng dạy và học tích cực, trước hết, và là điều quan trọng nhất, là các chủ thể cần phải trau dồi khả năng biết tự đặt câu hỏi. Bởi đó còn là yếu tố quyết định, có ý nghĩa lâu dài, nhất là trong thời đại của AI.

Tại sao?

Bởi khả năng đặt câu hỏi thể hiện tư duy phản biện, giúp con người không chỉ tiếp nhận thông tin một cách chủ động, mà còn biết phân tích, đánh giá và phản biện thông tin đó.
Đặt câu hỏi cũng còn là cách thúc đẩy quá trình học tập và khám phá. Khi con người biết đặt câu hỏi, họ tìm kiếm câu trả lời, dẫn đến sự hiểu biết sâu sắc hơn và sự phát triển kiến thức liên tục.
Đặt câu hỏi là cơ sở của sự sáng tạo và đổi mới. Nó mở ra những hướng đi mới, khám phá những ý tưởng mới và thúc đẩy sự phát triển ở nhiều lĩnh vực khác nhau.

Ngày nay, trong một thế giới biến đổi nhanh chóng với sự phát triển không ngừng của AI, con người lại càng cần phải biết đặt câu hỏi. Bởi biết đặt câu hỏi không chỉ giúp tận dụng tốt hơn cũng như thích ứng và ứng phó với những thay đổi, mà còn bảo vệ các giá trị nhân văn và xã hội trong quá trình phát triển công nghệ, đảm bảo AI được phát triển và sử dụng một cách có trách nhiệm và hiệu quả.

Thứ Ba, 25 tháng 6, 2024

KHI XA RỜI ÁNH SÁNG

Dương Quốc Việt

Chúng ta có thể dễ dàng tha thứ cho đứa trẻ sợ hãi bóng tối; bi kịch thật sự của cuộc đời là khi người đã trưởng thành sợ hãi ánh sáng. 

Socrates

______________________

Người ta dễ nhận thấy sự suy thoái ảnh hưởng đến đời sống xã hội và kinh tế khi tiêu dùng giảm. Tuy nhiên, còn ít người nhận ra, và nhiều người còn mơ hồ về những hậu quả tai hại, khi sự thật và tri thức bị suy yếu.

Trong lịch sử, nhiều xã hội đã trải qua thời kỳ xa rời sự thật và tri thức, giống như sống trong bóng tối. Sự kiểm duyệt thông tin, môi trường tri thức hạn hẹp và thiếu thông tin chính xác khiến con người sống trong sợ hãi, không dám nêu ý kiến khác biệt và mất cơ hội phát triển trí tuệ và kỹ năng. Họ cảm thấy tự ti, chấp nhận sự thật giả dối, dẫn đến các vấn đề tâm lý và sức khỏe tinh thần.

Trong bối cảnh đó, xã hội không thể tiến bộ. Sự phát triển khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác bị đình trệ. Thiếu thông tin và tri thức dẫn đến mất công bằng và dân chủ, quyền lực tập trung vào tay một số ít người, đa số bị thao túng. Tham nhũng và lạm quyền trở nên phổ biến; những người có quyền lực sử dụng kiểm soát thông tin để duy trì quyền lợi cá nhân, gây hại cho lợi ích chung của xã hội.

Sự thật và tri thức là nền tảng của một xã hội văn minh. Khi chúng bị bóp méo hoặc che giấu, giá trị văn hóa và đạo đức suy thoái, dẫn đến bất công và bạo lực. Thiếu tự do tư tưởng và tiếp cận tri thức không chỉ kìm hãm sự phát triển mà còn gây hệ lụy tiêu cực về tâm lý, văn hóa và đạo đức, ảnh hưởng lâu dài đến thịnh vượng và ổn định của quốc gia.

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2024

HAI NỀN VĂN MINH

 Dương Quốc Việt

PHƯƠNG ĐÔNG: Khổng giáo và Phật giáo đã đóng góp lớn vào việc hình thành và phát triển các nền văn minh phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam. Khổng giáo đề cao những giá trị như hiếu thảo, lễ nghĩa, trung thành, và trật tự xã hội. Còn Phật giáo chú trọng vào sự giải thoát, từ bi, và tu tập cá nhân. Nó mang đến một góc nhìn khác về cuộc sống, nhấn mạnh sự bình đẳng đối với tất cả mọi người. Những nguyên tắc và giá trị của hai hệ thống này không chỉ ảnh hưởng đến tôn giáo và triết học, mà còn lan tỏa vào văn hóa, giáo dục, chính trị, và đời sống hàng ngày. Chính vì vậy, phương Đông thường có sự coi trọng truyền thống, tôn ti trật tự và sự hài hòa trong xã hội.

PHƯƠNG TÂY: Lý trí của Socrates và đức tin của Jesus đã tạo nên một nền tảng mạnh mẽ cho văn minh phương Tây. Tư tưởng của Socrates thúc đẩy sự phát triển của khoa học, triết học và tư duy lý luận, phản biện. Sự nhấn mạnh vào lý trí và việc đặt câu hỏi đã giúp phát triển một nền khoa học tiên tiến và một hệ thống giáo dục chú trọng vào sự phân tích và khám phá. Trong khi đó, đức tin của Jesus mang đến những giá trị đạo đức, tinh thần và tôn giáo làm nền tảng cho các chuẩn mực xã hội và văn hóa. Tư tưởng của Jesus, với tình yêu thương và lòng bác ái, đã đóng góp vào việc hình thành những giá trị nhân đạo và tôn giáo sâu sắc. Sự kết hợp giữa lý trí và đức tin đã tạo ra một nền văn minh đa dạng và phong phú, nhấn mạnh vào sự phát triển cá nhân, khoa học và tư duy phản biện, nhưng cũng không quên những giá trị tinh thần và đạo đức.

Như vậy, hai nền văn minh mặc dù có sự khác biệt lớn trong cách tiếp cận và phát triển, nhưng đều có những giá trị riêng biệt và đặc sắc, góp phần làm phong phú thêm cho di sản văn hóa và tri thức của nhân loại.

Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2024

TƯ HỮU VÀ DỤC VỌNG

Dương Quốc Việt

Tư tưởng xóa bỏ tư hữu và tiêu diệt dục vọng, có lẽ là những tư tưởng phản con người nhất!
________________

Tư tưởng tiêu diệt dục vọng có nguồn gốc sâu xa trong các triết lý tôn giáo và triết học, đặc biệt là trong Phật giáo. Đức Phật dạy rằng dục vọng (tanha) là nguyên nhân chính của khổ đau và chỉ bằng cách tiêu diệt dục vọng, con người mới có thể đạt đến trạng thái giác ngộ (nirvana).

Tư tưởng xóa bỏ tư hữu chủ yếu bắt nguồn từ các lý thuyết xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Karl Marx và Friedrich Engels, trong “Tuyên ngôn Cộng sản” (1848), là những người đề xướng chính của tư tưởng này. Họ cho rằng việc xóa bỏ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sẽ dẫn đến sự bình đẳng xã hội và chấm dứt sự bóc lột giữa các giai cấp.

Tư tưởng xóa bỏ tư hữu và tiêu diệt dục vọng, mặc dù có mục tiêu cao cả là tạo ra một xã hội bình đẳng và chấm dứt khổ đau, nhưng trên thực tế lại đi ngược lại bản chất tự nhiên của con người và gây ra nhiều vấn đề thực tiễn.

Bởi trước hết, dục vọng là một phần của bản năng sinh tồn và phát triển của con người. Nó không chỉ mang nghĩa tiêu cực, mà còn là động lực để con người phấn đấu và phát triển. Việc tiêu diệt dục vọng hoàn toàn có thể dẫn đến tình trạng vô cảm, mất đi sự kết nối với thực tế cuộc sống và dẫn đến sự mất cân bằng tinh thần.

Còn sở hữu tư nhân là một phần quan trọng của bản chất con người, tạo ra động lực làm việc, sáng tạo và phát triển. Khi xóa bỏ tư hữu, có thể dẫn đến tình trạng thiếu động lực, sự trì trệ và thiếu sáng tạo.

Do đó, có thể nói đây là những tư tưởng phản con người, vì chúng không phù hợp với động lực tự nhiên và nhu cầu cơ bản của con người.

Tuy nhiên, việc kiểm soát tư hữu và dục vọng ở một mức độ hợp lý, lại là cần thiết để tránh tình trạng bất công xã hội cũng như lạm dụng quyền lực. Sự cân bằng giữa quyền sở hữu cá nhân và lợi ích chung của xã hội, giữa dục vọng cá nhân và đạo đức xã hội, mới là điều mà mỗi cá nhân và xã hội cần hướng tới.

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2024

HAI YẾU TỐ CẤU THÀNH VĂN MINH PHƯƠNG TÂY

Dương Quốc Việt

 

Như chúng ta đã biết, Khổng giáo và Phật giáo đã đóng góp lớn vào việc hình thành và phát triển các nền văn minh phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam. Những nguyên tắc và giá trị của hai hệ thống này không chỉ ảnh hưởng đến tôn giáo và triết học, mà còn lan tỏa vào văn hóa, giáo dục, chính trị, và đời sống hàng ngày. Còn văn minh phương Tây được dựa trên ý thức hệ Hy Lạp-khởi đầu từ Socrates và vô thức Kitô giáo-người sáng lập là Jesus Christ. Trong bài này, chúng tôi xin điểm lại một vài nét chính, về hai yếu tố cốt lõi, làm nên văn minh phương Tây.

Bàn về tư tưởng của Socrates và Jesus, Thomas Carlyle (1795-1881)-triết gia, nhà văn châm biếm, nhà viết luận, sử gia và nhà giáo người Xcốt-len trong thời Victoria, đã phát biểu rằng: “Sự khác biệt giữa Socrates và Jesus? Ý thức vĩ đại và vô thức vĩ đại vô cùng“. Hai phương diện này của con người – lý trí và tình cảm, không chỉ như hai thái cực, mà như hai yếu tố bổ sung cho nhau, cùng góp phần làm nên bản sắc mỗi cá nhân.

Ý thức vĩ đại của Socrates? Socrates là một triết gia Hy Lạp cổ đại, nổi tiếng với phương pháp đối thoại và khám phá sự thật qua việc đặt câu hỏi. Ông đại diện cho trí tuệ và lý trí, luôn ý thức và tỉnh táo trong việc tìm kiếm và truyền đạt chân lý. Phương pháp của Socrates là kích thích sự tự nhận thức, tự vấn và suy nghĩ sâu sắc. Ông không đưa ra câu trả lời mà khuyến khích người khác tự tìm ra sự thật thông qua đối thoại và lập luận.

Vô thức vĩ đại của Jesus? Jesus Christ là người sáng lập Kitô giáo, được coi là Đấng Cứu Thế và con của Thiên Chúa trong đạo này. Thông điệp của Jesus không chỉ là về lý trí mà còn về tình yêu, lòng từ bi, và sự hy sinh vô điều kiện. Sự vĩ đại của Jesus không phải nằm ở sự tỉnh táo của lý trí, mà ở sự vĩ đại và tinh khiết của lòng tin và tình yêu vô điều kiện. Điều này đại diện cho một loại trí tuệ khác, không phải của sự suy xét lý trí mà của đức tin và sự cảm nhận tâm linh.

Socrates khuyến khích cá nhân suy nghĩ độc lập và tự do tư duy, điều này giúp phát triển tinh thần phê phán và sáng tạo cá nhân. Jesus, ngược lại, nhấn mạnh vào tình yêu và sự hy sinh vì cộng đồng, thúc đẩy tinh thần đoàn kết và chăm sóc lẫn nhau.

Socrates đại diện cho lý trí và sự tỉnh thức, trong khi Jesus biểu tượng cho lòng tin và tình yêu vô điều kiện. Tư tưởng của Socrates đã mang lại nền tảng cho khoa học, triết học và tư duy logic. Trong khi đó, đức tin của Jesus đã thấm nhuần đạo đức, tình yêu thương và lòng từ bi. Sự hòa quyện và tương hỗ lẫn nhau giữa hai yếu tố: ý thức tỉnh táo và vô thức tâm linh này, đã tạo nên một nền văn hóa và tư tưởng đa dạng, phong phú và sâu sắc.

Chính vì thế, mà sự hiện diện của tư tưởng Socrates và Jesus có thể được thấy trong nhiều tác phẩm nghệ thuật, văn học và triết học phương Tây. Từ những tác phẩm của Plato đến các tác phẩm nghệ thuật thời Phục Hưng, và từ các triết gia hiện đại đến các nhà văn nổi tiếng, tất cả đều phản ánh sự kết hợp giữa lý trí và đức tin. Điều này cho thấy sức ảnh hưởng to lớn và lâu dài của cả hai nhân vật này.

Từ lịch sử loài người cho thấy, lý trí và đức tin đóng vai trò quan trọng, để xây dựng một xã hội phát triển toàn diện. Mặt khác hai thành tố ý thức và vô thức, cũng là những yếu tố quyết định đến sự phát triển của mỗi cá nhân trong xã hội. Và chính nhờ có sự kết hợp giữa lý trí của Socrates và đức tin của Jesus, mà đã tạo nên một nền tảng đa dạng, giúp phát triển nhiều khía cạnh về tư tưởng và văn hóa, trong việc hình thành và phát triển văn minh phương Tây.

 

BỞI CHÚNG TA LÀ CON NGƯỜI

Dương Quốc Việt

 

Bất cứ ai tìm cách tiêu diệt dục vọng thay vì kiểm soát chúng đều đang cố đóng vai thiên thần.

Voltaire

 

Bởi trước hết, dục vọng là một phần tự nhiên - không thể thiếu của một con người. Các nhu cầu cơ bản, như nhu cầu sinh tồn, nhu cầu sinh lý, và nhu cầu xã hội, đều là những bản năng giúp con người tồn tại và phát triển.

 

Hình ảnh "thiên thần" là biểu tượng cho sự hoàn mỹ, thuần khiết và không có dục vọng. Tuy nhiên, con người không phải là thiên thần! Vì vậy, việc cố gắng tiêu diệt dục vọng hoàn toàn là một việc bất khả thi - không thực tế.

 

Chưa kể, việc chối bỏ dục vọng của mình, con người có thể rơi vào cái bẫy kiêu ngạo, tin rằng mình có thể vượt qua bản chất của chính mình để đạt được sự hoàn hảo. Điều này có thể còn dẫn đến sự giả tạo, thậm chí bi hài...

 

Quan điểm của tâm lý học hiện đại cho rằng: con người cần chấp nhận bản chất thật của mình, học cách kiểm soát dục vọng hợp lý, hiểu và sử dụng chúng một cách lành mạnh và có ích, khuyến khích sự tự nhận thức và tự điều chỉnh, hướng tới sự cân bằng và điều độ, nhằm đạt được sự hài hòa trong cuộc sống. 

  

CUỒNG TÍN!

Dương Quốc Việt

 

Từ cuồng tín tới man rợ chỉ có một bước chân thôi. 

Denis Diderot 


Cuồng tín thường bắt nguồn từ niềm tin mãnh liệt vào một lý tưởng, tôn giáo, hoặc hệ tư tưởng nào đó mà không chấp nhận bất kỳ sự phản biện hay khác biệt nào. Điều này có thể dẫn đến hành vi bạo lực, vô nhân đạo khi đối mặt với những quan điểm trái ngược. 


Lịch sử đã từng chứng kiến nhiều câu chuyện đau thương - man rợ bắt nguồn từ sự cuồng tín, chẳng hạn như các cuộc thập tự chinh, các cuộc thanh trừng chính trị, hay các hành động khủng bố. Đó cũng còn là những bài học nhắc nhở con người về những nguy cơ tiềm ẩn khi để cho sự cuồng tín chi phối hành động. 


Trong xã hội hiện đại, việc duy trì tư duy phản biện, chấp nhận những khác biệt, tự vấn và kiểm tra lại niềm tin của mình, bảo vệ những giá trị dân chủ, nhân quyền, sự tỉnh táo, khoan dung và nhân đạo trong suy nghĩ và hành động, là những điều được khuyến khích để ngăn chặn tác hại của cuồng tín.