Dương Quốc Việt
Tiết lạnh thu tàn,
lòng người tĩnh lặng.
Kẻ nhớ tình xưa,
người mang tiếc nuối.
Khoảnh khắc giao thời,
ấy mùa lựa chọn.
Nhành lá vàng rơi,
như lòng ly biệt.
Người lo đông về,
kẻ ôm ký ức.
Lời thì thầm xưa,
nhắc bao mùa lỡ!?
Dương Quốc Việt
Tiết lạnh thu tàn,
lòng người tĩnh lặng.
Kẻ nhớ tình xưa,
người mang tiếc nuối.
Khoảnh khắc giao thời,
ấy mùa lựa chọn.
Nhành lá vàng rơi,
như lòng ly biệt.
Người lo đông về,
kẻ ôm ký ức.
Lời thì thầm xưa,
nhắc bao mùa lỡ!?
Dương Quốc Việt
Ngày tôi còn là học sinh cấp 3, báo Toán học và tuổi trẻ (TH&TT), ra 2 tháng một kỳ, tức là mỗi năm ra 6 số, mỗi số ra 10 đề mới-trong mục “đề ra kỳ này”. Đây là một tờ báo, lúc đó nó rất quý giá đối với tôi! Hình ảnh của tờ báo, thậm chí cả màu và mùi giấy của nó, đã đi vào ký ức của tôi, không bao giờ phai!
Đầu xuân năm 1972-trong tâm trạng ngán ngẩm, vì bị giữ lại-không được vào đại học-trong kỳ tuyển sinh 1971, bạn thử cảm nhận xem-cảm xúc của cậu học trò lúc đó, khi nhìn thấy đề toán của mình, xuất hiện trên số đầu tiên của năm?! Hơi bất ngờ-dường như cậu đã quên nó, do thời gian gửi và đăng cách nhau gần 1 năm.
Dẫu gì, thì đây cũng là một kỷ niệm đầu đời của tôi, với các ấn phẩm toán học của mình. Vì thế, mà đến tận xuân này, sau 52 năm với bao biến cố trong đời, tôi vẫn còn nhớ đến nó. Nay xin chia sẻ cùng các bạn cái đề toán “xưa cũ” ấy (phải nhờ tòa soạn chụp lại từ bản lưu ở đó), cách nay đã 52 năm.
Năm 1972 cậu là một học sinh phổ thông được tuyển đăng 4 đề, ngoài đề đầu tiên này, còn 1 đề ở số tháng 5-6 và 2 đề ở số tháng 7-8, cùng với sự góp mặt trong mục “giải bài kỳ trước” ở các số nữa.
Tôi còn nhớ rất rõ, thành phố Hưng Yên, lúc bấy giờ gọi là thị xã Hưng Yên, do thủ phủ của Hải Hưng đặt ở thị xã Hải Dương, nên khi đó thị xã này rất tiêu điều. Gần hồ Bán Nguyệt, cách nhà tôi khoảng 7 km, có một hiệu sách của cụ Tân Tiến; nơi đây có bán báo TH&TT, và tôi thường mua báo này ở đó. Cũng vào mùa xuân năm 1972 ấy, chỉ ít ngày sau khi tôi mua báo, thì bất ngờ, thị xã bị ném bom dữ dội vào đêm và gần sáng. Gia đình một thầy dạy văn ở trường cấp 2, nơi tôi từng học, đã bị trúng bom… Và đó cũng là những trận bom cuối cùng của không quân Mỹ dội xuống Hưng Yên.
Và mặc dù tham gia báo Toán học và Tuổi trẻ từ sớm, nhưng tôi hầu như không tham dự các cuộc gặp do báo mời. Mãi cho đến đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, có vài lần tôi ghé qua tòa soạn, và may mắn được gặp anh Phạm Quang Giám. Với tôi, anh là một con người tuyệt vời và có công rất lớn với báo.
Sau này, khi về giảng dạy ở Đại học Bách khoa Hà Nội, tôi mới có dịp gặp anh Ngô Đạt Tứ-một con người nhân hậu, trực tiếp phụ trách báo khi đó! Anh đã chia sẻ với tôi nhiều câu chuyện thú vị-về việc báo được đón nhận trong xã hội, đặc biệt là từ các thầy ở trường chuyên.
Năm 1998, khi đó báo đã thuộc Nhà xuất bản Giáo Dục quản lý, anh cùng với anh Vũ Kim Thủy (Fb: Vu KThuy) đã đến thăm nhà riêng của tôi. Anh Tứ rất mong muốn tôi sẽ phụ trách báo thay anh-khi anh nghỉ hưu. Tuy nhiên, việc không thành, bởi tôi vẫn muốn ở Đại học Bách khoa Hà Nội-mà chỉ nhận kiêm nhiệm vị trí đó ở báo.
Nhắc đến kỷ niệm này, khiến tôi nhớ lại-cũng trong năm 1998, báo TH&TT đã cho đăng bài “Nhìn lại khái niệm nghiệm kép của phương trình” (5/1998) của tôi. Bài viết này đã giúp Bộ Giáo Dục- điều chỉnh những cách hiểu sai lầm-về mối quan hệ giữa nghiệm kép và tiếp xúc với trục hoành- khi giải các bài tập toán phổ thông.
Câu chuyện đã thành dĩ vãng và TH&TT đã thay đổi khác xưa nhiều, nay nhân Stt này- mới có dịp kể lại. Thực sự tôi xót xa vô cùng- khi biết tin anh Tứ rời xa thế giới này khá muộn (qua Nguyễn Khắc Minh- cháu ruột của anh)! Rồi gần đây, tôi mới được nhìn thấy ảnh anh Phạm Quang Giám trên Facebook Quang Giam Pham của anh. Xin kính chúc anh mạnh khỏe và hạnh phúc bên gia đình!
Tôi cho rằng, ít nhất trong khoảng 30 năm đầu, báo TH&TT đã có những đóng góp to lớn đối với giáo dục nước nhà, không chỉ riêng giáo dục toán học. Với nhiều bài viết và dịch ở các chuyên mục khác nhau, thông qua việc phổ biến các tri thức- liên quan đến toán, một cách tự nhiên, tờ báo cũng đã đồng thời lan tỏa những tư tưởng tự do -tiến bộ, những điều mà báo chí và sách vở khác khó có thể làm được ở thời điểm đó- do bị kiểm duyệt cùng nhiều hạn chế khác, như nhiều người đã biết.
Copy từ Stt: “ẤN PHẨM ĐẦU TIÊN CỦA TÔI”-Fb-20/2/2024.
Dùng mẹo vặt nhuộm màu cho tư tưởng,
Lai láng thi ca phủ lấp kiếp điêu tàn.
Vỏ biện chứng-ruột trẽn trơ biện chứng,
Hồn lạc trên mây, đâu thấy dấu chân phàm!?
Một dân tộc hạn chế về tư tưởng và triết học- thường không những phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc phát triển bền vững và toàn diện, mà còn có thể dễ bị ảnh hưởng hoặc phụ thuộc vào các hệ thống tư tưởng ngoại lai- điều có thể khiến dân tộc đó mất đi khả năng tự định hình bản thân và dễ bị chi phối bởi các lợi ích từ bên ngoài. Hơn nữa, còn có một sự thực rằng, những nơi sản sinh ra một hệ tư tưởng nào đó, cũng là những nơi sớm thấy được hạn chế của nó, bởi thế họ biết chừng mực trong áp dụng, thậm chí loại bỏ, trong khi đó-những “chốn ăn theo” thường lại “kiên định” áp dụng máy móc, không chịu từ bỏ. Rằng đó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho những xứ sở-vốn yếu về tư tưởng và triết học, càng thêm trầm trọng!
Tư tưởng và triết học cung cấp nền tảng định hình hướng đi cho xã hội. Nếu thiếu những quan điểm triết học sâu sắc và tư tưởng dẫn đường, quốc gia có thể dễ rơi vào tình trạng phát triển không có định hướng rõ ràng- hoặc chỉ chạy theo những lợi ích ngắn hạn, bỏ qua những mục tiêu dài hạn và sự tiến bộ xã hội.
Triết học và tư tưởng khuyến khích sự phản biện, tự do tư duy, và khả năng đặt câu hỏi về mọi giá trị. Khi tư duy bị bó buộc, khả năng sáng tạo và đổi mới bị hạn chế, dẫn đến quốc gia có thể bị trì trệ về công nghệ, khoa học, giáo dục và văn hóa. Do đó, các nguồn nhân lực vì thế-cũng không thể được phát triển tối đa tiềm năng, dẫn đến sự yếu kém trong năng lực cạnh tranh quốc tế.
Những tư tưởng triết học lớn như quyền tự do, quyền cá nhân, và trách nhiệm xã hội, sẽ giúp tạo nền tảng cho sự phát triển dân chủ và nhân quyền. Một xã hội không có sự thấu hiểu sâu sắc về những vấn đề này- có thể gặp khó khăn trong việc xây dựng một nền văn hóa chính trị dân chủ và thúc đẩy các quyền tự do cơ bản.
Các tư tưởng và triết học thường cung cấp các công cụ lý thuyết để đối phó với mâu thuẫn- xung đột xã hội và những vấn đề đạo đức phức tạp. Khi không có sự phát triển tư tưởng và triết học, xã hội dễ bị chia rẽ- nên khó đạt được sự đồng thuận về các giải pháp bền vững cho các vấn đề lớn. Một điều thiết yếu để xây dựng một xã hội ổn định và phát triển.
Như vậy, sự hạn chế về tư tưởng và triết học- không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển cá nhân, mà còn tác động sâu rộng đến sự thăng tiến của cả quốc gia. Điều này làm hạn chế khả năng cạnh tranh toàn cầu, khiến xã hội dễ dàng bị tụt hậu.
Dương Quốc Việt
“Người ta là hoa đất”-một câu tục ngữ tinh tế của người Việt, nhưng tôi tin rằng trong sâu thẳm, hầu hết các dân tộc trên thế giới đều tôn vinh con người với ý nghĩa tương tự. Dù được diễn đạt bằng những ngôn ngữ và hình ảnh khác nhau, trong mọi nền văn hóa, từ Đông sang Tây, con người luôn được coi là những bông hoa đẹp nhất nở từ lòng đất mẹ-như thể được chắt ra từ tinh túy của đất trời.
Mỉa mai thay, trong thực tế, “hoa đất”-một sinh vật nhỏ bé giữa vũ trụ bao la-lại luôn tự cho mình là trung tâm của tất cả. Kiêu ngạo trước thiên nhiên cùng với tham vọng “xưng hùng xưng bá” trong chính xã hội của mình, đã tạo nên bi kịch lớn nhất của loài người! Sự tự tôn và thói ích kỷ không ngừng kéo loài người vào những vòng xoáy tàn khốc-từ việc gồng mình chống chọi với sức mạnh thiên nhiên đến những cuộc tranh giành quyền lực không hồi kết giữa con người.
Bởi thế, lịch sử loài người chẳng khác gì tấn bi hài kịch. Con người tự phong mình là “chúa tể của vạn vật”, nhưng lại luôn bị đe dọa trước những nguy cơ hủy diệt. Người ta có thể chế ngự thiên nhiên trong một thời gian, nhưng khi đất đai khô cằn, bầu trời bị ô nhiễm, và khí hậu biến đổi không thể cứu vãn, họ mới chợt nhận ra- thiên nhiên không cần con người, mà con người cần phải quy thuận thiên nhiên.
Cũng vậy, trong cuộc chơi quyền lực, những kẻ lên ngôi với tham vọng bá chủ luôn bị thế hệ sau phán xét, hoặc bị phế truất bởi chính những người mà họ đã từng đàn áp. Ngai vàng chỉ là tạm thời, nhưng nỗi đau và sự tàn phá mà họ gây ra cho xã hội, thì sẽ còn tồn tại mãi mãi. Khi xã hội bị chia rẽ bởi lòng tham và sự tranh giành, cùng môi trường bị hủy hoại, nhân loại mới vỡ lẽ – không có bất cứ một thứ quyền năng nào của con người là bất diệt!
Nhưng thật trớ trêu, con người vẫn không học được gì từ những sai lầm đó. Những cánh rừng-lá phổi của hành tinh- vẫn đang bị tàn phá một cách không thương tiếc, hàng triệu loài sinh vật bị quét sạch… Lịch sử tiếp tục lặp lại với những vòng xoáy của lòng tham, sự kiêu ngạo, và ảo tưởng. Những cuộc chiến tranh, những âm mưu chính trị, những cuộc chạy đua vũ trang vẫn diễn ra, khiến hàng triệu người vô tội vẫn phải trả giá cho những toan tính của một số ít kẻ cầm quyền. Dẫu biết chắc chắn rằng, sự “xưng bá” cuối cùng chỉ là một trò chơi vô nghĩa mà chẳng kẻ nào thực sự chiến thắng.
Con người luôn tự hào về trí tuệ và quyền năng của mình, nhưng chính sự kiêu căng cùng lòng tham và sự ích kỷ-đã đẩy nhân loại vào những thảm họa khôn lường. Cả trong cuộc chống chọi với thiên nhiên lẫn trong cuộc chiến quyền lực với đồng loại, con người đều thất bại bởi chính tham vọng không đáy của mình. Cuối cùng, những gì còn lại chỉ là tàn tích, những vết thương lở loét không bao giờ lành. “Hoa đất” hóa ra chỉ là một thứ hoa độc- báo hại hành tinh này sao!?
“Hoa của đất“-sao nhuốm màu dục vọng
Hỏi “Đấng cao xanh“-sáng tạo muôn loài?